4. ~ Thức khác | Et cetera

Pietro Citati: Những thành phố vô hình *

Khi Italo Calvino bắt đầu viết Những thành phố vô hình (xuất bản năm 1972), nhiều năm trước đó ông đã không có lý thuyết, hoặc triết lí, hoặc kiến trúc nào rõ rệt trước mặt. Ông viết từ từ, không kế hoạch tổng thể, cứ viết, hết thành phố này đến thành phố kia, không biết mình sẽ thực hiện gì với những hình ảnh mang tính chất gô-tích lạ lùng ấy, vốn được dành cho những thành-phố-người-nữ hoặc những người-nữ-thành-phố. Sau đó tác phẩm trưởng thành trong tay ông, tự tạo ra kiến trúc của nó. Nhưng có một điều ngay lập tức lộ rõ. Ông sẽ không viết một tiểu thuyết hay một chuyện kể. Ông đã tìm được một cấu thức mới giữa truyện ngắn, thơ văn xuôi, dụ ngôn đạo đức, câu chuyện siêu hình học, khúc Capriccio, tranh tiểu họa; cái cấu thức mà ở thế kỷ hai mươi đã đạt tới đỉnh cao qua những truyện ngắn của Kafka và những áng văn xuôi của Borges. Ông muốn thể nghiệm cuộc phối hợp, gần gũi với người Trung Hoa, mà ở phương Tây, Plato đã thành công tuyệt vời: đúc hòa sự tập trung và sự nhẹ; chan chứa các cấu thức gọn nhỏ của mình với các ý nghĩa tinh tưởng, buộc người đọc phải đọc qua sự hỗ trợ của ống kính và kính hiển vi, toàn thể để lại trên các trang viết một sự thanh thoát tối cao, như thể sự họa trên các cánh bướm. Hầu như không gì được phát biểu một cách trực lộ: mọi dấu hiệu, mọi tiếp chạm dấy lên trong tâm trí những ý nghĩa và ám chỉ, và mỗi ám chỉ lại cưu mang trong nó một hội rước những ý nghĩa khác.

Từ một số năm, ông đã cư ngụ trong sự trưởng thành; và chú tâm khám phá cái lãnh thổ mà Shakespeare đã giới thiệu cho mình. Ông nhận ra rằng mình không có những dục vọng nữa: hoặc rõ hơn, những dục vọng của ông không còn mong được thực hiện như trước kia nữa: ông không tìm cách sở hữu sự vật sự việc; những dục vọng  cất bước vào vô số ngả đường, và chúng thích ngụ lại trong bất thỏa, như một ẩn lực tiến tới tương lai. Đôi khi, chúng trở thành kỷ niệm; vậy là Calvino đằm sâu trong kí ức, mà cho đến lúc đó ông đã hết sức thận trọng, và ông nhận ra rằng nó đã trở nên kí ức của thế giới. Trong khi đó, xung quanh ông, xúm xít những khuôn mặt kẻ đã khuất. Cho nên, tác phẩm chất chứa những nỗi niềm cảm xúc và sầu muộn, chưa từng có trong các tác phẩm khác của Calvino: một khoảnh khắc, những nỗi niềm ấy hiện ra ánh sáng, tự vén mở mình qua một hình ảnh hoặc một tính từ; rồi ngay lập tức, cái nghệ thuật tế nhị hoàn hảo liền tháo dỡ, dời xa, bao bọc chúng bằng các mạng che cực kì thanh nhã.

Khi tác phẩm bắt đầu, Hốt Tất Liệt là hình ảnh của kẻ đầy quyền năng: một cảm giác trống rỗng, chóng mặt và tuyệt vọng ùa đến khi ông nhận ra rằng cái đế chế mà dường như đối với mình là hình ảnh của mọi điều kỳ diệu lại « là một đống hoang tàn đổ nát vô hình vô tận »; và Calvino khơi lại những khúc khải hoàn và sự phù phiếm của quyền lực qua một thứ văn xuôi ba-rốc ngoạn mục. Lúc đầu Hốt Tất Liệt cần Marco Polo, bởi chàng cung cấp cho ông những sự thật chiết trừ từ thời gian; Sau đó, chính ông tự biến đổi, không còn là một kẻ đầy quyền năng, mà là một người suy niệm, thẩm vấn vũ trụ, mơ mộng, du hành bằng trí tưởng tượng; mối quan hệ giữa hai người càng trở nên thân mật và tin cậy, họ cùng nhau thẩm vấn, chuyện trò hoặc rít thuốc trong im lặng, người này là tấm gương soi người kia, và thậm chí họ không biết liệu mình đang sống trong thực tại hay trong cái cõi bình lặng sáng-tối của tâm trí. Xung quanh họ, thành phố dời chuyển: những thành phố đầu là các bức tiểu họa mang tính chất gô-tích mà Calvino trích ra từ Nghìn lẻ một đêm, từ tác phẩm của những nhà du hành thời xưa, từ những bức tranh cổ: những thành phố sau cùng là những đại đô thị hiện đại, nơi những toa xe tải dồn ép người đi bộ, những đám mây bụi khói gây ô nhiễm không khí, và những bãi rác chất tầng ; khi đó thì Hốt Tất Liệt và Marco Polo đằm sâu vào tương lai, nhoài người ra khỏi cái thế giới mà chúng ta biết. Tuy nhiên, Hốt Tất Liệt và Marco Polo không hề động tĩnh: họ luôn ngụ lại trong cái đài quan sát nằm bên ngoài thời gian mà Calvino dành cho mình.

Những thành phố vô hình là tác phẩm triết học tuyệt vời của văn học Ý sau Occasioni[1]  và Pasticciaccio[2]. Không phải nhiều cực nhọc, một nhà nghiên cứu có thể  ghi chú nó, hoãn chờ đến những luận bàn mang tính nhận thức học mà Calvino ám chỉ, vốn được ông rút tắt trong một hình ảnh, hoặc thỏa giải một cách ngoạn mục. Song tác phẩm của sự nhận thức này không bao giờ là một Conte philosophique. Sự viết không thi hành sự phát minh trí thức; sự viết đi xa hơn chủ đề, sự viết đẩy chủ đề ra khỏi chính nó, biến tấu nó, đối chất nó; hình ảnh luôn luôn bung vỡ bất ngờ, đỏng đảnh, hầu như tự tiện. Nếu Marco Polo khi đàm đạo với Hốt Tất Liệt không biểu lộ qua ngôn từ mà qua cử chỉ hoặc những vật thể hoặc những biểu tượng – tiếng rú động vật, lông đà điểu, đá thạch anh, quân cờ, răng lợn lòi, cú quẫy của cá -, thì các thành phố của Calvino cũng là những biểu tượng : chất chứa và ám chỉ đồng thời nhiều sự thật, những hồi thanh, và những vầng sáng của sự thật. Không quan trọng khi tự hỏi liệu Calvino được truyền cảm hứng từ lí trí hay từ sự diệu tưởng, bởi ở đây lí trí trở nên trổ bóng và sum suê hơn sự diệu tưởng, và sự diệu tưởng thì mang tính chặt chẽ và sắc rõ của trí tuệ: một ví dụ tuyệt vời về cái cách mà trong nghệ thuật lớn sự suy niệm và trí tưởng tượng được đúc hòa vào nhau như thế nào. Văn xuôi Calvino chan chứa các sự vật: những chi tiết mê hoặc: ông yêu quý từng cái một: thoăn thoắt quẫy động mỗi thứ trong chúng; và toàn thể cùng nhau cuốn hút, uốn lượn, phức hợp, đa diện mạo, đa cấu thức. Điều đặc biệt tạo ấn tượng là sự biến tấu. Calvino giới thiệu một chủ đề, sau đó diễn giải nó qua hàng chục cách khác nhau, từ trên cao hoặc từ dưới thấp, đi thẳng hay đi tắt, nghiêm trang, dịu dàng, làm trò, khắc khổ, như thể sự biến tấu là linh hồn đích thực của văn học.

Kiến trúc thì cực mỏng. Tôi không biết Calvino đã phải cần bao nhiêu nỗ lực: tôi cho rằng ít hơn nhiều so với những gì người ta nói; bởi nghệ thuật tổ hợp ở ông là một món quà của tự nhiên. Mỗi “thành phố vô hình” là thành phần của một chuỗi (Thành phố và kí ức, Thành phố và dục vọng, Thành phố và giao lưu), chỉ trong đó nó mới tìm được ý nghĩa của chính mình: song cũng là của một chương, vốn sở hữu một tính thống nhất riêng; và, cuối cùng, nó cần được đọc trên cái nền tất cả các thành phố khác, phối hợp san sát xung quanh, tương đồng và không tương đồng. Nếu đọc kĩ hơn nữa, chúng ta nhận ra rằng, một số thành phố có thể thuộc về một chuỗi khác, hoặc những chuỗi khác; và có những thành phố thì vượt khỏi bất kỳ mô hình nào – bay bướm, chợt lóe, rực lan những khúc Capriccio. Rất ít nhà văn đã lèo lái sát đến thế với bản chất của một tác phẩm đích thực: thật vậy, qua những thành phần bằng nhau, tính tự do và tính tất yếu, tính tất yếu và tính tự do, tự chuyển đổi vai trò và thành phần, đến mức chúng ta không còn có thể phân biệt được định mệnh với trò chơi nữa.

Nền tảng trò chơi triết học của Calvino cực kì giản dị: ông từ chối không nói hoặc không; với bất cứ giá nào ông không bao giờ muốn chọn lựa một giá trị tuyệt đối. Trực quán trung tâm của tác phẩm là tính phân cực của vũ trụ: mỗi thành phố, mỗi sự thật, có một đối trọng và một phản đề, đặt trước nó như sự trái ngược của nó. Isaura, dẫn xuống chiều sâu vực thẳm, thì tự dâng cao và tiệm tiến hướng thượng: Valdrada rọi ánh chiếu trên mặt hồ, và ánh chiếu trong nước này chứa những nếp gợn nhấp nhô, trần nhà và sàn nhà của Valdrada: Olivia, thành phố lộng lẫy, đầy ắp cung điện, vòi phun nước và những con công trắng, là một nơi của bồ hóng và ghê sợ; Eudossia, thành phố platonic, chốn lặp lại bức họa đồ hoàn hảo trên một tấm thảm, là một cái đốm loang không mang cấu thức, đường sá ngoằn ngoèo chữ chi; Raissa, thành phố buồn bã, chứa cái thành phố sung sướng …

Từ những giả định triết học của mình, Calvino suy ra một đạo đức. Nếu muốn hiểu điều gì đó, chúng ta phải tu dưỡng điều đối nghịch: nếu muốn lĩnh hội cái cao, chúng ta phải học hỏi cái thấp, nếu muốn biết bao nhiêu bóng tối vây quanh, chúng ta phải “xoáy ánh mắt vào cái đốm ánh sáng yếu ớt đằng xa “; nếu tin rằng thực tại là tươi sáng, là hoàn hảo, giống như một viên kim cương vĩ đại đa diện và trong suốt, chúng ta phải nhớ lại cái nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bất hạnh, « mà không loại đá quý nào có thể đền bù ». Vậy thì những lời tối hậu của cái vũ trụ phân cực này là gì? Rằng mỗi sự đối nghịch được phản ánh trong sự đối nghịch kia? Và chúng ta phải sống như thể chúng ta ngụ trong một tấm gương? Hẳn đó sẽ là một sự thật quá giản đơn và mang tính an ủi. Bởi Calvino trao cho chúng ta, lần nữa, một câu trả lời phân cực và mâu thuẫn. Lúc thì tán dương cái đức hạnh ánh chiếu, và cho chúng ta thấy cái cách mà những thành phố thiên giới phản ánh ở những thành phố trần gian, và những thành phố trần gian ở những thành phố thiên thể như thế nào. Lúc thì, trái lại, ông chứng tỏ rằng không có ánh chiếu nào. Ngôn từ không có quan hệ với những gì được cho là mang nghĩa: thành phố xây dựng trên hồ và thành phố ánh chiếu trong nước, cái này là mặt lộn trái của cái kia, và thông giao giữa chúng không phải là sự yêu thương mà là sự ghét bỏ.

Nếu như đây là những lời cuối cùng của tác phẩm, Calvino hẳn vẫn là tù nhân trong tòa lâu đài hình học về sự phản đề của ông. Trong khi cái thực tại phân cực được kéo đi bởi tinh thần của tính đa bội và tính chuyển động. Không chỉ có những thành phố đối nghịch, mà còn có những thành phố bất tận: những thành phố thực có, những thành phố mơ thấy, những thành phố khả thể, những thành phố bất khả; và chúng thay đổi, chúng cải biến, chỉ có như vậy chúng mới vẫn giữ y nguyên tinh thần của mình. Calvino tiến hành từ cấu thức này sang cấu thức kia : không bao giờ theo tuyến tính: lúc đường thủy, lúc đường bộ, lúc rảo bước trên độ cao của thành phố, phóng từ mái nhà này sang mái nhà kia: lúc xáo xác chạy cùng những đàn chuột trong bóng tối của các ống cống: lúc bay theo đường chim nhạn, rạch ngang không gian trên những mái nhà, cúp cánh rơi xuống theo một tuyến parabôn vô hình, vút cánh thăng lên xoắn tít sát quanh một đỉnh tháp, thống lĩnh tất cả các mũi chóp của mặt đất từ mọi điểm trên không đạo của mình.

Cuối cùng, sự chuyển động không ngừng này, những ngàn thành phố này, những ngàn con đường này, tạo nên một hệ thống các mối quan hệ, một Toàn-thể-các-quan-hệ-hữu-hình-và-vô-hình. Phải chăng đây là những lời cuối cùng của tác phẩm? Ai có thể nói đây: cái hệ thống lớn có thể tạo nên một sự giăng mắc, hoặc dẫn đến một cái hộp trống không, một hư vô: thế mà sau đó một Marco Polo-Calvino cực động và cực diệu tưởng vội lao đến cái hộp trống không này và có thể nhận ra trong đó một sự đa bội của sự vật sự việc, của sự chuyển động, và của các mối quan hệ – ô gỗ đó, sự hư vô vốn vén mở một thân cây đó, một gút thắt, một viên ngọc, một tổ sâu bướm, bàn tay người thợ mộc và ngôi rừng gỗ mun và những chiếc bè và những bến đỗ và những cô nàng bên cửa sổ: thế nên sự vô cùng bèn tập trung, đông tụ tại một điểm, và bồng bềnh tại đó.

Trong vũ trụ, niềm không tưởng không bao giờ được thực hiện, và Calvino lặp lại điều này bằng sự chắc chắn vô vọng. Không có hòa âm của thế giới (harmonia mundi). Không có thành phố hoàn hảo. Không có thành phố công chính. Thế mà ở những kẽ nứt mà đôi khi mở ra trong tác phẩm và trong vũ trụ, Calvino họa ra niềm không tưởng tối thiểu của mình. Giữa đường phố và trong cái mật độ hằng ngày của chúng ta có ẩn khuất những mẩu mảnh cách biệt, những khoảnh khắc chia lìa – “những tín hiệu của một người gửi không biết người nhận là ai” – vốn họa ra cái thành phố hoàn hảo: trong suốt như một con chuồn chuồn, vun vút như một cánh én, thưa thoáng như đăng ten, trong thanh như ánh trăng, gân guốc như chiếc lá. Đây : “Có một đứa trẻ bên cửa sổ cười toe khi một con chó phóng lên mái nhà đớp mẩu bánh ngô rơi vãi từ anh thợ nề trên giàn giáo, người đã hét vang: – Người đẹp ới ời, cho anh chấm với nào! – tới cô chủ quán, dưới giàn giây leo đang bưng một đĩa sốt cà chua thịt bằm vui vẻ mang đến cho một bác thợ làm dù đang uống mừng vụ làm ăn tốt đẹp, chiếc dù ren trắng đã được một quý bà sang trọng tìm mua để phô diễn tại sân quần ngựa, bà ta đang tương tư một viên sĩ quan đã mỉm cười với mình khi phóng qua dãy hàng rào cuối cùng, chàng kị sĩ sung sướng đã hẳn, song con ngựa lại càng sung sướng hơn, lúc phóng qua các chướng ngại nó đã trông thấy một con chim đa đa bay trên bầu trời, con chim sung sướng vì đã được thả khỏi lồng từ một chàng họa sĩ sung sướng vì đã vẽ con chim chi li đến từng cọng lông vũ đốm đỏ đốm vàng trên bức tiểu họa…”. Cái thành phố hoàn hảo biến đi ngay khi nó vừa xuất hiện; và cần phải nói về nó một cách ngẫu nhiên, kín đáo, mà không giao cho nó quá nhiều trọng lượng, như thể nó chưa từng tồn tại. Thế mà cái khoảnh khắc ấy lại trải mở diện tích của tác phẩm, mang lại cho nó dầy dặn khí quyển, lấp lánh, và trong suốt hơn, dù rằng nó không bao giờ sao nhãng cái nỗi thống khổ và cái tình thế địa ngục.

Không nghĩa gì khi tự hỏi liệu nghệ thuật của Calvino, như của Montale và của Gadda, có một tương lai hay không? Tương lai của một nhà văn không bao giờ ở những kẻ bắt chước hay, hay ở những kẻ bắt chước dở, vốn thường gặp hơn. Chỉ cần cất bước đi đến tiệm sách, lấy xuống từ trên kệ Những thành phố vô hình hay Nam tước trên cây, và lại khởi sự đọc chúng. Mỗi lần tác phẩm sẽ khởi động, dịch chuyển, trình ra trước chúng ta một diện mạo luôn luôn mới mẻ mà mười hay hai mươi năm sau vẫn sẽ khác đi, và vẫn sẽ diễn ra như thế khi các thế hệ khác đọc và diễn giải nó qua một điệu thức mà chúng ta không thể nào hình dung. Song Những thành phố vô hình biết cái điệu thức này bởi tự thân nó bao hàm cả những độc giả năm 2030, cách đọc của họ, và toàn bộ cuộc sống quá-khứ-tương-lai.

*****

[1] Le Occasioni: tập thơ của nhà thơ Ý Eugenio Montale (1896 – 1981), người được giải Nobel năm 1975.

[2] Quer pasticciaccio brutto de via Merulana: tiểu thuyết của nhà văn Ý Carlo Emilio Gadda (1893 -1973).

* Pietro Citati: La malattia dell’ infinito, Oscar Mondadori 2008, p. 392-398

Advertisements